Nghiên cứu khoa học
Sofosbuvir với pegylated interferon alfa-2a và ribavirin để điều trị bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gene 1 (ATOMIC) mà chưa được điều trị trước: một thử nghiệm ngẫu nhiên, mở, đa trung tâm giai đoạn 2 Sofosbuvir với pegylated interferon alfa-2a và ribavirin để điều trị bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gene 1 (ATOMIC) mà chưa được điều trị trước: một thử nghiệm ngẫu nhiên, mở, đa trung tâm giai đoạn 2

Vấn đề nghiên cứu: Sofosbuvir là một chất tương tự uridine nucleotide có một tác dụng ức chế chọn lọc của HCV NS5B polymerase. Các tác giả đã đánh giá sự an toàn và tính hiệu lực của sofosbuvir trong kết hợp với pegylated interferon alfa-2a (peginterferon) và ribavirin ở các bệnh nhân mắc viêm gan C chưa từng được điều trị.

Sofusbuvir trong sự phối hợp peginterferon alfa-2a và ribavirin đối với các bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gene 1,2, và 3 mãn tính chưa được điều trị trước, không xơ gan: một thử nghiệm ngẫu nhiên, hai mù, giai đ Sofusbuvir trong sự phối hợp peginterferon alfa-2a và ribavirin đối với các bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gene 1,2, và 3 mãn tính chưa được điều trị trước, không xơ gan: một thử nghiệm ngẫu nhiên, hai mù, giai đ

Vấn đề nghiên cứu: Các thuốc ức chế protease đã cải thiện cách thức điều trị đối với nhiễm HCV, nhưng liều lượng, một trở lực nhỏ đối với sự đề kháng, các tương tác thuốc, và các tác dụng ngoại ý làm hạn chế việc dùng của chúng. Các tác giả đã đánh giá tính an toàn và hiệu lực của sofosbuvir, một chất tương tự uridine nucleotide, ở các bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gene 1-3.

Oleanolic acid và ursolic acid: các chất kháng HCV mới ức chế hoạt tính của NS5B Oleanolic acid và ursolic acid: các chất kháng HCV mới ức chế hoạt tính của NS5B

HCV gây nhiễm cho 170 triệu người trên thế giới và gây ra tỷ lệ mắc và tử vong có ý nghĩa. Tiếc thay, điều trị hiện nay chỉ khỏi xấp xỉ 50% bệnh nhân viêm gan C và lại kèm các tác dụng ngoại ý, điều này đòi hỏi đảm bảo nhu cầu phát triển thuốc mới và các thuốc kháng virus chống lại HCV.

HBV RNA và HBeAg huyết thanh là những dấu ấn sinh học hữu ích đối với việc ngừng các thuốc tương tự nucleotide một cách an toàn ở các bệnh nhân viêm gan B mãn tính HBV RNA và HBeAg huyết thanh là những dấu ấn sinh học hữu ích đối với việc ngừng các thuốc tương tự nucleotide một cách an toàn ở các bệnh nhân viêm gan B mãn tính

Bản tóm tắt được các tác giả trình bày, các tác giả thuộc Khoa Tiêu hóa và Chuyển hóa, Khoa học Đời sống Ứng dụng, Viện Y Sinh và Khoa học Sức khỏe, Đại học Hiroshima, Hiroshima, Japan.

Các yếu tố nguy cơ đối với klebsiella pneumoniae tạo KPC quần cư ở ruột trong lúc nhập viện đơn vị chăm sóc – điều trị tăng cường Các yếu tố nguy cơ đối với klebsiella pneumoniae tạo KPC quần cư ở ruột trong lúc nhập viện đơn vị chăm sóc – điều trị tăng cường

Mục tiêu: Để nhận diện các yếu tố nguy cơ về Klebsiella pneumoniae tạo KPC (KPC-Kp) quần cư ở đường ruột trên bệnh nhân nhập viện đơn vị chăm sóc – điều trị tăng cường (ICU). Gần đây, sự nổi lên và lan rộng Enterobacteriaceae tạo KPC ở các cơ sở y tế đã trở thành một vấn đề quan trọng. Sự hiểu biết về phạm vi của sự lưu giữ ở đơn vị chăm sóc và điều trị tăng cường có thể là quan trọng cho việc can thiệp có mục tiêu.

Một điểm số dự báo mới đối với phát triển ung thư tế bào gan nguyên phát ở bệnh nhân viêm gan C mãn tính sau đáp ứng virus bền vững với điều trị phối hợp interferon và ribavirin Một điểm số dự báo mới đối với phát triển ung thư tế bào gan nguyên phát ở bệnh nhân viêm gan C mãn tính sau đáp ứng virus bền vững với điều trị phối hợp interferon và ribavirin

Mục tiêu: Điều trị kháng virus có thể phòng ngừa sự phát triển ung thư tế bào gan nguyên phát HCC ở bệnh nhân viêm gan C mãn tính (CHC). Tuy nhiên, ung thư gan nguyên phát vẫn phát triển ở bệnh nhân đã hoàn thành đáp ứng virus bền vững (SVR). Các tác giả đã đề xuất nhằm đánh giá các yếu tố nguy cơ và nhận được từ một điểm số nguy cơ mới đối với ung thư tế bào gan nguyên phát (điểm số (HCC)) bằng việc cộng các sản phẩm về cân đo lâm sàng đã được dựa lên các hệ số hồi qui trong mô hình nguy cơ cân đối cuối cùng.

 

Probiotics trong bệnh nặng: một điểm báo tổng thể về bằng chứng thử nghiệm ngẫu nhiên Probiotics trong bệnh nặng: một điểm báo tổng thể về bằng chứng thử nghiệm ngẫu nhiên

Mục tiêu: Bệnh nặng làm thay đổi kết quả về vi sinh học của đường tiêu hóa, dẫn đến một sự mất mát các vi khuẩn chí cộng sinh (commensal flora) và một sự tăng trưởng quá mức của các vi khuẩn có tiềm năng gây bệnh. Sử dụng một số dòng của các vi khuẩn sống có lợi (live bacteria: probiotics) cho các bệnh nhân mắc bệnh nặng có thể bả tồn sự cân bằng đối với các vi khuẩn có lợi (the microbiota) và đạt được các tác dụng tích cực lên chức năng miễn dịch và cấu trúc và chức năng đường tiêu hóa. Mục tiêu của bài điểm báo hệ thống này là nhằm đánh giá hiệu lực của probiotics lên các kết quả lâm sàng của các bệnh nhân nặng.

Đánh giá các đột biến đề kháng thuốc kháng virus viêm gan B trong các bệnh nhân có triệu chứng viêm gan B cấp ở Hoa Kỳ Đánh giá các đột biến đề kháng thuốc kháng virus viêm gan B trong các bệnh nhân có triệu chứng viêm gan B cấp ở Hoa Kỳ

Bản tóm tắt được các tác giả thuộc Khoa Bệnh Truyền Nhiễm, Bệnh viện Henry Ford, Detroit, MI, Hoa Kỳ trình bày, sau đây là bản chuyển ngữ.

Sofosbuvir với pegylated interferon alfa-2a và ribavirin để điều trị bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gene 1 (ATOMIC) mà chưa được điều trị trước: một thử nghiệm ngẫu nhiên, mở, đa trung tâm giai đoạn 2 Sofosbuvir với pegylated interferon alfa-2a và ribavirin để điều trị bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gene 1 (ATOMIC) mà chưa được điều trị trước: một thử nghiệm ngẫu nhiên, mở, đa trung tâm giai đoạn 2

Vấn đề nghiên cứu: Sofosbuvir là một chất tương tự uridine nucleotide có một tác dụng ức chế chọn lọc của HCV NS5B polymerase. Các tác giả đã đánh giá sự an toàn và tính hiệu lực của sofosbuvir trong kết hợp với pegylated interferon alfa-2a (peginterferon) và ribavirin ở các bệnh nhân mắc viêm gan C chưa từng được điều trị.

Sofusbuvir trong sự phối hợp peginterferon alfa-2a và ribavirin đối với các bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gene 1,2, và 3 mãn tính chưa được điều trị trước, không xơ gan: một thử nghiệm ngẫu nhiên, hai mù, giai đ Sofusbuvir trong sự phối hợp peginterferon alfa-2a và ribavirin đối với các bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gene 1,2, và 3 mãn tính chưa được điều trị trước, không xơ gan: một thử nghiệm ngẫu nhiên, hai mù, giai đ

Vấn đề nghiên cứu: Các thuốc ức chế protease đã cải thiện cách thức điều trị đối với nhiễm HCV, nhưng liều lượng, một trở lực nhỏ đối với sự đề kháng, các tương tác thuốc, và các tác dụng ngoại ý làm hạn chế việc dùng của chúng. Các tác giả đã đánh giá tính an toàn và hiệu lực của sofosbuvir, một chất tương tự uridine nucleotide, ở các bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gene 1-3.

Oleanolic acid và ursolic acid: các chất kháng HCV mới ức chế hoạt tính của NS5B Oleanolic acid và ursolic acid: các chất kháng HCV mới ức chế hoạt tính của NS5B

HCV gây nhiễm cho 170 triệu người trên thế giới và gây ra tỷ lệ mắc và tử vong có ý nghĩa.Tiếc thay, điều trị hiện nay chỉ khỏi xấp xỉ 50% bệnh nhân viêm gan C và lại kèm các tác dụng ngoại ý, điều này đòi hỏi đảm bảo nhu cầu phát triển thuốc mới và các thuốc kháng virus chống lại HCV.

HBV RNA và HBeAg huyết thanh là những dấu ấn sinh học hữu ích đối với việc ngừng các thuốc tương tự nucleotide một cách an toàn ở các bệnh nhân viêm gan B mãn tính HBV RNA và HBeAg huyết thanh là những dấu ấn sinh học hữu ích đối với việc ngừng các thuốc tương tự nucleotide một cách an toàn ở các bệnh nhân viêm gan B mãn tính

Bản tóm tắt được các tác giả trình bày, các tác giả thuộc Khoa Tiêu hóa và Chuyển hóa, Khoa học Đời sống Ứng dụng, Viện Y Sinh và Khoa học Sức khỏe, Đại học Hiroshima, Hiroshima, Japan.

Viêm phổi cấp và hệ thống tim mạch Viêm phổi cấp và hệ thống tim mạch

Mặc dầu liên quan có tính chất truyền thống với tư cách là một bệnh phổi được xác định, viêm phổi cấp có những tác dụng quan trọng lên hệ thống tim mạch với tất cả các mức độ nặng – nhẹ khác nhau.

Dùng corticosteroids để phòng ngừa tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân mắc lao: một điểm báo toàn diện và phân tích gộp Dùng corticosteroids để phòng ngừa tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân mắc lao: một điểm báo toàn diện và phân tích gộp

Phương pháp: Các tác giả đã thực hiện một cuộc điểm báo một cách hệ thống và phân tích gộp để ước lượng hiệu lực của steroids đối với việc phòng ngừa tỷ lệ tử vong của tất cả các thể lao, và để lượng hóa tính chất không đồng nhất trong kết cục này giữa các hệ thống cơ quan bị ảnh hưởng. Các tác giả đã tìm kiếm đăng ký thử nghiệm Nhóm Các Bệnh Truyền nhiễm Cochrane, Đăng ký Trung tâm Cochrane của các thử nghiệm có Đối chứng, Medline, Embase, và Y văn Latino-Americana e do Caribe em Ciências da Saúde (LILACS) đối với các nghiên cứu đã được công bố tính đến 6 tháng 9, 2012, và đã kiểm tra các danh mục tài liệu tham khảo của các nghiên cứu được bao gồm và các bài điểm báo thích hợp. Các tác giả đã kết luận rằng tất cả các thử nghiệm ở người mắc bệnh lao ở bất kỳ hệ thống cơ quan nào, với bệnh lao được xác định về lâm sàng hoặc vi sinh học. Không có những hạn chế tuổi tác, bệnh kèm theo, ngôn ngữ của các tài liệu, hoặc loại thuốc, liều lượng hoặc sự kéo dài điều trị bằng steroid. Các tác giả đã dùng phương pháp Mantel-Haenszel để tóm tắt tỷ lệ tử vong của tất cả các thử nghiệm.

Nguyên nhân và kết cục viêm phổi nặng ở người lớn miễn dịch bình thường mắc phải tại cộng đồng Nguyên nhân và kết cục viêm phổi nặng ở người lớn miễn dịch bình thường mắc phải tại cộng đồng

Bản tóm tắt nghiên cứu của các tác giả thuộc Đại Học Y, Bệnh viện Đại học Aga Khan, PO Box # 3500, Stadium Road, Karachi, 74800, Pakistan.

Dự báo thời tiết

Hà nội

Hỗ trợ
Thăm dò ý kiến
Theo bạn trang web đã đáp ứng được đầy đủ những thông tin thiết yếu chưa?

Đầy đủ

Chưa dầy đủ

Ít nội dung

Đóng góp ý kiến
10 sự kiện nổi bật
Xem nhiều nhất
Hỏi đáp