Nghiên cứu khoa học
Hiệu lực của truyền tĩnh mạch vancomycin liên tục để điều trị bệnh nhân ngoại trú bị nhiễm tụ cầu kháng methicillin Hiệu lực của truyền tĩnh mạch vancomycin liên tục để điều trị bệnh nhân ngoại trú bị nhiễm tụ cầu kháng methicillin

Mục tiêu: Các hướng dẫn xuất bản gần đây về điều trị các bệnh do tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) khuyến cáo rằng việc dựa vào truyền vancomycin đường tĩnh mạch liên tục trên nền tảng các nghiên cứu chưa đầy đủ so với truyền vancomycin ngắt quảng. Các tác giả đã so sánh các kết quả của bệnh nhân được điều trị với vancomycin truyền liên tục với truyền ngắt quảng.

Những kết quả của việc bắt đầu điều trị thuốc kháng virus tuyến đầu trong bệnh nhân đồng nhiễm HBV/HIV ở Ghana Những kết quả của việc bắt đầu điều trị thuốc kháng virus tuyến đầu trong bệnh nhân đồng nhiễm HBV/HIV ở Ghana

Mục tiêu: Đồng nhiễm HIV/HBV hay gặp ở Ghana, ở đây việc điều trị kháng virus tuyến đầu (ART) bao gồm lamivudine với zidovudine hoặc stavudine và nevirapine hoặc efavirenz. Người ta biết ít về các kết quả ART trong bối cảnh đồng nhiễm này. Nghiên cứu này để đánh giá các kết quả ART trong số bệnh nhân người Ghana đồng nhiễm HIV/HBV, nhắm vào các thông số sẵn có tại địa phương.

Dùng nevirapine, trị liệu kháng virus kéo dài và các giá trị CD4 thấp nhất ở mức cao tương quan mạnh mẽ với việc không thể phát hiện nồng độ HIV – DNA và HIV-RNA và đạt được tế bào CD4 mức cao Dùng nevirapine, trị liệu kháng virus kéo dài và các giá trị CD4 thấp nhất ở mức cao tương quan mạnh mẽ với việc không thể phát hiện nồng độ HIV – DNA và HIV-RNA và đạt được tế bào CD4 mức cao

Mục tiêu: Để đánh giá những mối tương quan của sự kết hợp giữa nồng độ HIV-DNA (<10 copies/106 tế bào đơn nhân ngoại vi) và HIV-RNA (<1 copy/mL huyết tương) không thể phát hiện với một số lượng tế bào CD4 > 500 TB/mm3 (được xác định như là mục tiêu điều trị) ở một nhóm của 420 bệnh nhân đáp ứng điều trị với các thuốc kháng

Một lần so với hai lần/ngày dùng viên lopinavir/ritonavir ở trẻ em nhiễm HIV trải qua điều trị, ức chế virus: so sánh kết cục virus học và dược động học sau khi chuyển qua dùng một ngày một lần lopinav Một lần so với hai lần/ngày dùng viên lopinavir/ritonavir ở trẻ em nhiễm HIV trải qua điều trị, ức chế virus: so sánh kết cục virus học và dược động học sau khi chuyển qua dùng một ngày một lần lopinav

Mục tiêu: Dữ liệu về việc dùng các viên thuốc lopinavir/ritonavir mỗi ngày một lần ở trẻ em còn hạn chế. Các tác giả đã so sánh về dược động học (PK) của lopinavir/ritonavir 2 lần/ngày trong việc ức chế virus, trẻ em bị nhiễm HIV, và đã được đánh giá kết quả về virus học, vào tuần thứ 48, ở trẻ em tiếp nhận chế độ lopinavir/ritonavir một lần/ngày.

Các yếu tố nguy cơ về thiếu vitamin D và mối liên quan với các dấu ấn sinh học của tim, hiện tượng viêm và sự bảo tồn miễn dịch ở thanh thiếu niên nhiễm HIV Các yếu tố nguy cơ về thiếu vitamin D và mối liên quan với các dấu ấn sinh học của tim, hiện tượng viêm và sự bảo tồn miễn dịch ở thanh thiếu niên nhiễm HIV

Vấn đề nghiên cứu: Thiếu vitamin D hay gặp ở những cá thể nhiễm HIV. Ở người lớn, các yếu tố kinh điển và các yếu tố liên quan HIV đóng một vai trò về tình trạng vitamin D, và sự thiếu hình như với sự bất thường của sự bảo tồn miễn dịch và nặng lên của các biến chứng HIV, như về bệnh tim mạch (CVD). Nghiên cứu này đã tìm kiếm để xác định các yếu tố góp phần với tình trạng vitamin D ở thanh thiếu niên nhiễm HIV và điều tra mối quan hệ với nguy cơ bệnh tim mạch, hiện tượng viêm và sự bảo tồn miễn dịch.

Protein C phản ứng độ nhạy cao (hsCRP), hoạt động của bệnh và các yếu tố nguy cơ tim mạch trong lupus ban đỏ hệ thống Protein C phản ứng độ nhạy cao (hsCRP), hoạt động của bệnh và các yếu tố nguy cơ tim mạch trong lupus ban đỏ hệ thống

Mục tiêu: Để nghiên cứu nồng độ của protein C phản ứng độ nhạy cao (hsCRP) và mối quan hệ của nó với hoạt động của bệnh, thương tổn và các yếu tố nguy cơ về tim mạch ở các bệnh nhân mắc bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE).

Những bệnh cấp hoặc mãn tính đe dọa đến tính mạng kết hợp với nhiễm EBV Những bệnh cấp hoặc mãn tính đe dọa đến tính mạng kết hợp với nhiễm EBV

Bản tóm tắt được các tác giả Nhật Bản thuộc Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Truyền Nhiễm, Viện Y Tế Công Cộng Hokkaido, Sapporo, Japan; và Khoa Nhi thuộc Trường Y của Đại Học Bang Ohio, Bệnh Viện Nhi Đồng Toàn Quốc, Columbus, Ohio.

Hoạt tính diệt khuẩn của ACH-702 chống lại tụ cầu không phân chia và tạo màng sinh học. Hoạt tính diệt khuẩn của ACH-702 chống lại tụ cầu không phân chia và tạo màng sinh học.

Phần tóm tắt này do các tác giả hiện làm việc tại tập đoàn dược phẩm Achillion, ở New Haven, bang Connecticut, Hoa Kỳ đã nghiên cứu hoạt tính diệt khuẩn của chất ACH-702. Phần sau là nội dung tóm tắt mời bạn đọc lướt qua.

Điều trị bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có suy thận bằng Adalimumab Điều trị bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có suy thận bằng Adalimumab

Mục tiêu: Để làm sáng tỏ sự an toàn của adalimumab (ADA) dùng điều trị cho bệnh nhân viêm khớp dạng thấp (rheumatoid arthritis: RA) kèm theo suy thận gồm bệnh thận giai ddaonj cuối đang trải qua lọc thận nhân tạo (HD).

Ý nghĩa lâm sàng của các phân lập đường hô hấp phức hợp Mycobacterium abscessus Ý nghĩa lâm sàng của các phân lập đường hô hấp phức hợp Mycobacterium abscessus

Phức hợp Mycobacterium abscessus là mycobacteria rất độc, tăng trưởng nhanh gây bệnh phổi xâm nhập. Để mô tả (to delineate) kinh nghiệm và kết cục lâm sàng nhi khoa một cách tốt hơn với phức hợp M. abscessus, chúng tôi đã tập trung hồi cứu dữ liệu 5 năm nhiễm phức hợp M. abscessus và các kết cục đầu ra trong một trung tâm bệnh phổi trẻ em của một bệnh viện lớn.

Thiếu vitamin A làm thay đổi sức đề kháng của đường hô hấp ở trẻ em nhiễm trùng đường hô hấp trên Thiếu vitamin A làm thay đổi sức đề kháng của đường hô hấp ở trẻ em nhiễm trùng đường hô hấp trên

Mục tiêu: Để đánh giá liệu rằng thiếu vitamin A làm thay đổi sự bình phục của sự đề kháng hô hấp toàn bộ (total respiratory resistance: TRR) theo sau nhiễm trùng đường hô hấp trên cấp tính (URI).

Tối ưu hóa các kháng sinh chống pseudomonas đối với những đợt nặng lên của bệnh xơ hóa nang phổi: IV. Colistimethate sodium Tối ưu hóa các kháng sinh chống pseudomonas đối với những đợt nặng lên của bệnh xơ hóa nang phổi: IV. Colistimethate sodium

Bệnh nhân mắc chứng xơ hóa nang (CF) thường có kinh nghiệm những đợt viêm đường hô hấp nặng lên cấp tính (acute pulmonary exacerbations: APE) và có thể được điều trị với một loạt kháng sinh đường tĩnh mạch rộng rãi.

Abatacept làm giảm đáp ứng miễn dịch nặng đối với thuốc chủng cúm A/H1N1 đại dịch năm 2009 Abatacept làm giảm đáp ứng miễn dịch nặng đối với thuốc chủng cúm A/H1N1 đại dịch năm 2009

Mục tiêu: Để đánh giá ảnh hưởng của abatacept và các yếu tố góp phần kết hợp với tính sinh miễn dịch của vaccine cúm A/H1N1 trong vụ đại dịch năm 2009 ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp (RA).

Tính đa dạng di truyền của IL-28B đóng vai trò tối thiểu trong việc nhận diện thời gian kéo dài điều trị tối ưu ở bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gene 1 đáp ứng chậm với pegylated interferon kèm ribavirin Tính đa dạng di truyền của IL-28B đóng vai trò tối thiểu trong việc nhận diện thời gian kéo dài điều trị tối ưu ở bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gene 1 đáp ứng chậm với pegylated interferon kèm ribavirin

Vấn đề nghiên cứu: Pegylated interferon và ribavirin dùng trong 72 tuần cải thiện việc đáp ứng virus bền vững (SVR) ở những người nhiễm HCV genotype 1 (HCV-1) đáp ứng virus chậm. Liệu rằng IL- 28B (IL28B) các kiểu gene đa dạng nucleotide đơn (SNP) và các đáp ứng virus với điều trị tiếp tục có thể phát hiện đáp ứng virus không nhanh (rapid virological response: RVR) bệnh nhân hưởng lợi từ trị liệu 48 hoặc 72 tuần trị liệu vẫn còn chưa được biết rõ.

Sàng lọc bệnh lao tiềm tàng ở bệnh nhân sự tuyển dùng anti-TNF-α trong một địa phương tỷ lệ mới mắc lao cao Sàng lọc bệnh lao tiềm tàng ở bệnh nhân sự tuyển dùng anti-TNF-α trong một địa phương tỷ lệ mới mắc lao cao

Vấn đề nghiên cứu: Sàng lọc nhiễm lao tiềm tàng (LTBI) bằng cách dùng một đề cương gồm chụp X quang phổi và test tuberculin da (TST) đã được giải thích với tiền sử y khoa, Sc1, giảm tái hoạt bệnh lao tiềm tàng lên việc điều trị với anti-TNF-α. Tại quận Seine-Saint-Denis, Pháp Quốc, ở đó tỷ lệ mới mắc bệnh lao (TB) trong phạm vi từ 30 đến > 100/100.000 người - năm, tuy nhiên, Sc1 có lẽ không nhạy cảm với tư cách là một công cụ sàng lọc. Các tác giả đã chấp nhận một đề cương khác, Sc2, gồm Sc1 kèm the 2 test phụ trợ: the QuantiFERON®-TB Gold In-Tube (QFT-GIT) và chụp cắt lớp điện toán (CT).

Dự báo thời tiết

Hà nội

Hỗ trợ
Thăm dò ý kiến
Theo bạn trang web đã đáp ứng được đầy đủ những thông tin thiết yếu chưa?

Đầy đủ

Chưa dầy đủ

Ít nội dung

Đóng góp ý kiến
10 sự kiện nổi bật
Xem nhiều nhất
Hỏi đáp